Bắt đầu từ những cái tên: Hà Tiên, Km Dự
Lan Đào, Bình San Điệp Thúy, Đông Hồ Ấn Nguyệt, Thạch Động Thôn Vân,
Phù Đổng Cổ Tự như trong tiểu thuyết là điều có nguyên do, đủ nói lên
cả hình ảnh, màu sắc, và những nhét thơ mộng của những địa danh.
Nếu
có thời gian, bạn hãy chọn đi bằng tàu đò từ Châu Đốc, An Giang. Theo
dòng kênh Vĩnh Tế, nhớ thuở cha ông đi mở cõi, lập điền, đào kênh thoát
lũ ra Biển Đông vào đầu thế kỷ 19 ở biên giới Tây Nam này. Thuyền sẽ
đưa ta qua những cánh đồng mùa vàng của vựa lúa Long Xuyên, có bóng cây
thốt nốt vươn cao, dãy Thất Sơn hùng vĩ, và những miệt vườn hai bờ hoa
trái trù phú của miền Tây Nam Bộ. Con kênh dài gần 90 km thẳng tới
sông Giang Thành, đổ vào Đông Hồ rồi ra vịnh Thái Lan.
Nếu chạy bằng xe, Hà Tiên sẽ
đón ta bằng cây cầu vươn trước biển, những con thuyền nhấp nhô trên
sóng, trước hòn đảo Kim Dự Lan Đào – với nghĩa là đảo vàng chắn sóng.
Hòn đảo nhỏ nay đã nối với đất liền, ở vị trí tiền đồn trấn giữ trước
biển khơi. Những khách sạn, resort trên vị trí này có tầm nhìn tuyệt
đẹp, một bên mở ra biển và một bên là thị trấn Hà Tiên với Đông Hồ và
núi Tô Châu.
Thị
xã Hà Tiên không lớn, hơn tất cả các thị tứ nơi khác bởi vẻ em đềm
dung dị với những khu nhà ẩn sau vườn, ven theo chân núi, hay trước mặt
hồ, chạy bên sông và những bến thuyền nơi cửa biển, dập dìu thuyền cá,
thuyền du lịch vào ra…
Ai về Hà
Tiên cũng thích ngồi quán cà phê ngay trên mặt hồ, từ dây, trong ráng
chiều buông, dập dờn tiếng sóng, nghe chuyện xưa cũ thực hư, mông lung
mơ màng về thuở hồng hoang, nơi bến sông Giang Thành – tiên nữ thường
giáng xuống từ trời, nên ta mới gọi chốn này là Hà Tiên.
Cũng
trên con đường trước Đông Hồ, có căn nhà nhỏ của hai cố văn nhân thi
sỹ với bút danh Đông Hồ và Mộng Tuyết – những cây bút cuối cùng của
thời kỳ văn học lãng mạn thế kỷ 19 nối sang thế kỷ 20. Đó là những văn
nhân gần gũi nhất với thi đàn Chiêu Anh Các, với những tác phẩm để lại,
đưa chúng ta hướng về văn hiến Hà Tiên từ khởi thủy đầu thế kỷ 18.
Nơi
ngọn núi lớp lớp màu xanh cây lá, nên người ta gọi là Bình San Điệp
Thủy. Phía trước có đền thờ Mạc Cửu và còn là Mạc Thiên Tích, những
người có công lớn trong việc xây dựng, bảo vệ, mở mang bờ cõi, phát
triển kinh tế thương mại nhờ vào cửa biển, đề cao việc học và trân trọng
văn hóa trên mảnh đất này. Thắp nén tâm nhang trong đền, và trên khu
lăng mộ của dòng họ Mạc, trong khói hương giữa trời đất phong quang, ta
trở về với nguồn cội xa xưa của lịch sử, một dáng hào hùng mảnh đất nơi
đầu sóng ngọn gió của đất nước.
Những
dẫu ấn sử thi và văn hiến, hiện hữu vô hình trong những gì không thể
gọi tên, đặt tên cụ thể, còn mãi qua thời gian mà ta cảm nhận được khi
đến đây, qua tìm hiểu những câu chuyện xưa gắn với từng di tích lịch sử
và văn hóa của Hà Tiên.
Dẫu hôm
nay, hồ Bán Nguyệt nơi Phù Dung Cổ Tự được xây lại khang trang, nhưng
dường như không đúng với vị trí xưa, và cũng không còn nét lãng mạn
cùng loài sen trắng như Mạc Thiên Tích dành cho nàng Ái Cơ, người đã
dứt lụy đời ẩn mình nơi cửa Phật. Thì ta vẫn bồi hồi nghe chuyện ấy, và
men theo tiếng mõ niệm vang lên từ gác chuông phía sau chùa, mà không
khỏi tiếc nuối mối tình của anh hùng và thuyền quyên, nhiều phần là
thực, hơn là truyền thuyết dân gian.
Rời
xa thị xã, ta đi về hướng biển tìm về những phong cảnh đã có tiếng có
tên, có bãi Dương cát trắng phủ dài nằm giữa núi và biển rất đỗi bình
yên, rồi ta qua cửa biển Ba Hòn, tàu đánh cá tấp nập vào ra, chợ hải
sản bên sông nhộn nhịp bán buôn. Đi qua chùa Hang, bức tranh vịnh biển
Hòn Chông như một phần hình ảnh của Hạ Long trên màu xanh của biển.
Những chuyến du ngoạn bằng thuyền trên vịnh ghé thăm những đảo đá khác
nhau không thể thiếu trong một chuyến về với Hà Tiên.
Mũi
Nai là một eo biển có bãi cát thơ mộng và những hàng dừa xanh mướt
mải, dành riêng cho du lịch nghỉ dưỡng. Du khách đến đây thả hồn trước
gió, nô đùa bơi cùng sóng biển, và thụ hưởng các món ngon của đặc sản
nơi này.
Xuống
biển rồi lên núi, dãy núi Đá Dựng còn mang trầm tích của biển cả từ
ngàn vạn năm trước, với những hang động lên xuống kỳ thú cho du lịch
khám phá và mạo hiểm. Đứng từ trên cao, ta có thể trải tầm mắt xuống
đồng ruộng mênh mông xung quanh. Thạch Động nổi tiếng xưa nay, mây vờn
của hang, truyền thuyết Thạch Sanh có từ đây.
Sau
những chuyến đi quanh như thế với chuyện kể, với hình ảnh và rất nhiều
trải nghiệm khác nhau, ta lại về với những chiều buông trước Đông Hồ,
nhìn sang Tô Châu, mái ngói đỏ Tịnh xá Ngọc Tiên, và của nhiều ngôi
chùa nữa – trên lưng chừng núi giữa màu xanh cây lá. Núi thả bóng xuống
mặt hồ tĩnh lặng. Rất nên qua cầu lên núi, để nhìn ngắm toàn cảnh, bạn
sẽ không khỏi choáng ngợp với hình ảnh một thị xã Hà Tiên duyên dáng,
trắng sáng những ngôi nhà mới, một bán đảo tinh khôi, trù phú nằm giữa
mây và nước… Đâu là cuối của mặt nước Đông Hồ, đâu là bắt đầu biển cả,
rõ ràng bên phải bên trái mà ta cứ lẫn lộn như mơ…
Ta
sẽ chọn đến Hà Tiên vào một mùa trăng, để được cảm mặt gương Đông Hồ
như những thi nhân nah hào một thuở trong thi đàn Chiêu Anh các, tao
đàn thứ hai của nước nhà, để lại những hình ảnh của mảnh đất này bằng
thơ là Hà Tiên Thập Vịnh, còn đến hôm nay. Có người Hà Tiên rất trẻ cũng
viết về quê mình:
Nắng nhạt Bình San, sương mờ Thạch Đông
Mây vượt Tô Châu, giăng trắng Đông Hồ…
Đó
là bức tranh sơ phác vài nét về Hà Tiên còn sau đó là những câu
chuyện, có tình yê và thất vọng, có những chiến công và những lời thơ
của người xưa…
0 nhận xét:
Đăng nhận xét